Bài cảm nhận về chuyến đi thực tế của Nguyễn Thị Lan Anh.

   XỨ  VẠN CẦN MỘT HƯỚNG ĐI MỚI

                    NGUYỄN THỊ LAN ANH

      Trước kia đây là xóm than con ạ! Nhưng bây giờ nó là xứ Trầm còn về tương lai ….

      Đôi mắt bác Ngọc xa xăm thoáng ẩn một nỗi  buồn u hoài chất chứa trong nghĩ suy của một con người đã trải bao thăng trầm của thế sự cuộc đời.

      Gió  biển mặn mòi thổi ùa từng đợt những con sóng vào bờ như một bà mẹ đang động viên rồi đẩy nhẹ đứa con về phía cuộc đời để nó lớn thêm lên. Tôi ngồi miên man nghĩ về câu nói của bác Ngọc và nghĩ về viễn cảnh của tương lai của xứ Vạn…

      Thôn Quảng Hội 1 xã Vạn Thắng huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa trước kia vốn là một khu nghĩa địa lớn nhưng nay với khoảng 588 hộ dân thôn đã mang một diện mạo hoàn toàn mới văn minh và giàu có hơn. Chúng tôi đã gắn bó với bà con nơi đây trong 11 ngày đi thực tế sưu tầm văn học dân gian. Những thấp thỏm lo âu buổi đầu của chúng tôi đã được xóa bỏ khi thấy được tấm chân tình nồng nhiệt của bà con nơi đây. Đi sâu vào sưu tầm chúng tôi có dịp tìm hiểu không chỉ vốn văn hóa dân gian mà còn hiểu hơn về phong tục về cuộc sống và những con người vùng đất này.

      Cuộc sống mưu sinh của những người dân xứ Vạn chủ yếu dựa vào nghề làm Trầm Hương có một số ít gia đình theo nghiệp chài lưới hoặc làm ruộng nhưng đó chỉ là thiểu số. Nghề nào nghiệp nấy nghề nào cũng có cái khó cái vất vả long đong của nó. Nghề làm Trầm có khoảng 180 năm trước và xuất phát điểm là từ Vạn Giã rồi lan đến Vạn Thắng và các xã khác lúc nào không hay. Nhận thấy nguồn lợi từ việc làm Trầm mọi người dần bỏ nghề cũ - Đi rừng đốn củi đốt than sang đi làm Trầm Hương nhưng cái quy luật muôn thuở “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt” tuy là “Rừng vàng biển bạc” ấy nhưng để khai thác được chất vàng chất bạc  thì đã có không ít người phải trả những cái giá  qua đắt bằng cả tính mạng của mình ở chốn “Rừng thiêng nước độc”.

      Trầm và kì nam là những sản vật quý được thành tạo từ cây Gió có mùi thơm và được sử dụng chủ yếu để làm nhang đốt xông hay đeo vào người để tránh gió độc hay xua đuổi điềm xui rủi. Nhưng không phải loại Gió nào cũng có thể tạo Trầm và Kì Nam. “ Gió có ba loại: Gió Lưỡi Trâu thành Khổ Trầm Gió Niệt thành Trầm Hương Gió Bầu thành Kì Nam. Người ta thấy cây lá vàng mà nhỏ thân cây nổi nhiều u bướu thì biết ngay là có Trầm Hương chặt bổ để lấy” (Đại Nam Nhất Thống Chí – Tỉnh Khánh Hòa Nxb Thuận Hóa 1992 trang 122). Theo giá thị trường hiện nay thì trung bình Trầm có giá từ 8 đến 10 triệu đồng  một ki-lô-gam tùy thuộc vào tinh dầu mà định lượng giá trị còn Kì Nam thì trên dưới 3 tỉ một ki-lô-gam. Giá trị của Trầm Kì quả là không nhỏ chút nào đó là lí do chính mà mọi người đổ xô đi tìm Trầm và Kì

      Do sự ưu đãi của thiên nhiên “Cơm trước mặt cá sau lưng” mà người dân nơi đây có lối sống phóng túng và thoải mái không phải đắn đo cân nhắc suy nghĩ như bố mẹ chúng tôi. Cách sống “Được bữa nào ăn bữa ấy” “Được đồng nào xào đồng ấy” thêm vào đó mỗi gia đình có từ 3 đến 7 đứa con là chuyện bình thường đã đưa đến một bất cập chính là vấn đề thanh thiếu niên bỏ học để theo anh theo cha đi làm Trầm ngày càng nhiều bởi lẽ đơn giản “Đi học làm gì có tiền” cứ hết tiền thì đàn ông con trai trong nhà tay xách nách mang lên núi tìm Trầm ở nhà chỉ có đàn bà và con nít thì đi vay mượn để sống qua ngày chờ người  Đi Địu trở về và món nợ này chỉ được thanh toán khi người trở về mang theo Trầm hoặc Kì Nam một phần họ trả nợ cũ phần còn lại họ ăn uống mua sắm tiêu pha cho đến khi hết thì lại bắt đầu một hành trình mới. Nhưng đó là khi may mắn gặp được Trầm và Kì còn nếu không thì nợ nọ dồn nợ kia hết năm này qua tháng khác. Thế nên có người bỗng chốc trở nên giàu có là cũng vì Trầm Kì nhưng có người nghèo vẫn hoàn nghèo thì cũng là do Trầm Kì. Tất cả như một sự may mắn ngẫu nhiên vậy. Cuộc sống của họ cứ thế trôi qua mà không hề có một sự trù tính nào cho tương lai của gia đình con cái.

      Nhưng chúng ta hãy nghĩ sâu xa hơn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận sẽ đến ngày Trầm hết Kì cũng không còn do mức độ khai thác quá cao trong khi những cây Gió còn đang là những mầm ủ mình trong đất chưa kịp lớn. Dù rằng khoa học công nghệ đã phát triển cao và việc trồng Gió lấy Trầm đã được phổ biến rộng rãi nhưng để một cây Gió kết trầm thì cũng phải mất 15 đến 20 năm vấn đề là người dân sẽ lấy đất ở đâu để trồng Gió về giá trị và chất lượng cũng không cao bằng Gió rừng với người dân trình độ lớp 3 lớp 5 thì liệu họ có thể tiếp thu được những tiến bộ khoa học kĩ thuật một cách đầy đủ hay không?  thêm vào đó là phần kinh phí để chăm sóc sẽ lấy từ đâu? … .Có lẽ mô hình này là một giải pháp tuy nhiên chưa thể phát triển rộng rãi và khả năng nhân rộng trên địa bàn là rất khó thực hiện. Một số người dân tìm đến vùng núi Hà Tĩnh mua Trầm về làm nhưng tất cả chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi. Và hãy thử hỏi những người dân sẽ làm gì để mưu sinh trong thời gian chờ Gió kết Trầm khi trình độ văn hóa của họ quá thấp?.

      Đây là một vấn đề nhạy cảm và nan giải đặt ra trước mắt cho những người lãnh đạo dù giờ đây nhà nước đang làm rất tốt công tác xóa đói giảm nghèo và khuyến học hay chuyển đổi cơ cấu kinh tế thế nhưng dự kiến về hướng đi cho tương lai xứ Trầm và cả một lớp người vẫn đọng lại nhức nhối. Việc tìm cho xứ Vạn một hướng đi mới là vấn đề cấp bách hiện nay đã và đang là một vấn đề cấp bách cho các cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm.

      Nắng gầy guộc rót ong những hạt vàng trong trẻo lấp lánh xuống mặt biển. Tôi mong một ngày không xa khi có dịp về  thăm lại cứ Vạn thì những đôi mắt  hoài nỗi buồn như của bác Ngọc hôm nay – Những hạt phù sa hiếm hoi của biển sẽ lánh niềm vui của sự đổi thay.